NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU

tiep(SO SÁNH TRẬT TỰ TỪ CỦA ĐỊNH NGỮ GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

tiep(SO SÁNH TRẬT TỰ TỪ CỦA ĐỊNH NGỮ GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)

Bài gửi by ng thi thanh huyen on 11/12/09, 04:51 am

Bảng 1. Trật tự định ngữ trong danh ngữ tiếng Anh
Trong đó:
a. Tiền chỉ định từ (Pre – determiner): bao gồm các từ như: all, both, half, double.
b. Chỉ định từ (Determiner): bao gồm:
- Mạo từ (article)
- Tính từ chỉ định (demonstrative adj): this, that, these, those.
- Tính từ sở hữu (possessive adj): my, your, his, her, its, our, their.
- Sở hữu cách (possessive case): John’s.
- Các từ chỉ định khác (demonstrative): another, any, each, either, enough, much, neither, no, some, which, whose…
c. Tính từ chỉ số thứ tự (Ordinal adj): first, second, last…
d. Tính từ chỉ số đếm (Cardinal adj): 1, 2, 3…
e. Tính từ chỉ kích thước (size): tiny, small, large…
f.Tính từ chỉ phẩm chất (quality) như: good, bad…Khi có nhiều tính từ chỉ tính chất cùng phụ nghĩa cho một danh từ, thì tính từ ngắn thường đứng trước tính từ dài, và tính từ chỉ tinh thần thường đứng trước tính từ chỉ vật chất. Ví dụ: a kind tall and healthy person.
g. Tính từ chỉ tuổi tác (age), tình trạng (cũ, mới) như: young, old, new
h.Tính từ chỉ chiều dài (legh), hình dáng (shape) như: long, short, round…
i. Tính từ chỉ màu sắc (colour) như: red, yellow, green…
j. Tính từ chỉ quốc tịch (nationality), nước xuất xứ, như: French, Vietnamese…
k. Hiện phân từ (present participle) hay quá phân từ (past participle). Hiện phân từ dùng với ý nghĩa tiếp diễn (đang diễn ra) và có tính chủ động, như: learning, working. Quá phân từ dùng với ý nghĩa quá khứ (đã xảy ra) và có tính bị động, như: broken, fied,… Nếu có cả 2 dạng hiện phân từ và quá phân từ cùng tồn tại thì quá phân từ đứng trước, hiện phân từ đứng sau (gần với danh từ trung tâm hơn).
Ví dụ: a tested printing device (một thiết bị in đã được kiểm tra).
l. Danh từ phụ, được dùng như tính từ, để bổ nghĩa, hạn định, chỉ rõ ý nghĩa/ phạm vi danh từ chính. Ví dụ: a computer system; a tin box.
m.Danh từ chính (head Noun), là trung tâm của danh ngữ (Noun Phrase), như: system, box… (trong ví dụ trên).
2.2.2 Thành phần bổ nghĩa đặt sau danh từ chính (post – modfier)
Dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nhà Anh ngữ học, ta có thể đưa ra bảng mô tả các thành phần đặt sau danh từ chính (post – modifier) như sau:

12345 – 6789
a - bcde ® jlmn
Dect.Ord. NCar. NPre – modifierSub. NounHead NounPost - modifiers
1.Her pretty
new
green
dressin the wardrobe
2.The old Professorgiving the lecture
3.The boyin a white shirt who is talking to the professor
Bảng 2. Thành phần bổ nghĩa đặt sau danh từ chính trong danh ngữ tiếng Anh.
Ghi chú:
1. Đối với thứ tự của tính từ chỉ kích thước (e) và tính từ chỉ phẩm chất (f), có những ý kiến trái ngược nhau. Theo nhà văn phạm A.S. Hornby, thì (f) đứng trước (e), còn theo Cornelius, thì (e) đứng trước (f) như trong bảng trên.
2. Trật tự của các cột 1 ® 8 nói chung là cố định, còn trật tự giữa các tính từ trong cột 5 có thể bị thay đổI trong một số trường hợp nhất định do các yếu tố về tâm lý, về ý nghĩa muốn nhấn mạnh yếu tố hài hoà về mặt ngữ âm…
2.3 Định ngữ tiếng Việt
Tham khảo các kết quả nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học và qua khảo sát thực tế, tác giả bài viết này đề nghị bảng sắp xếp thứ tự các định tố (một cách tương đối ổn định) trong tiếng Việt như sau:




-3-2-10+1+2+3+4+5
abcdEfghhijlmno
Từ tổng lượngSố từTừ chỉ xuấtDanh từ chínhD.từ phụtrạng thái/ vật liệuquốc tịchkích thướcHình dáng chiều dàithời gianchất lượngMàu sắcSố thứ tựChỉ địnhSở hữu
1.Mộtcáiáo dài mớiđẹpmàu
xanh
lá cây
2.Một cáihộp thiếc có lợi ích
3. gương mặt nhỏtròn màu hồng của cô ta
4.Vàicáibắp cải lớn màu đỏ
5.Một số trái táo chuamàu xanh
6.Tất cảnhữngchiếcgiày da rắn nhỏ màu nâu đó
7.Mộtcontem hình tam giác hấp dẫnmàu xanh
8.Một bức tường gạch cao màu đỏ
9.Một dây thắt lưng da dài màu nâu
10.Mộtcáiđồng hồ vàng rất cũ
11.Sáucáiáo dài Việt Nam đầu tiên của cô ta
12.Một hệ thốngthiết bịin(của) Pháp hiện đại
13.Một con chiên to ngon, nóng
14.Một sinh viên tử tế, cao và khoẻ mạnh
15. Đôi mắt totròn màu xanh của mary
Bảng 3. Trật tự định ngữ trong danh từ tiếng Việt.
2.3.1 Thành tố phụ trước của danh từ:
a. Từ chỉ tổng lượng (vị trí – 3), như: tất cả, hết thảy, toàn bộ. Những từ này, nói chung có thể đứng liền trước những lớp từ con sau:
-Số từ (ở vị trí – 2) như: một, hai, ba,…
-Danh từ tập thể (không cần có từ ở vị trí – 2), như: đàn lũ, bộ, nắm,…
-Danh từ tổng hợp (không cần có từ ở vị trí – 2), như: quần áo, binh lính, xe cộ, máy móc,..
Ví dụ: tất cả mọi việc; tất cả 5 ngườI; 5 ngườI tất cả…
b. Số từ (vị trí – 2), là những lớp từ con sau:
- Số từ, như: một, hai, ba,… Số từ không đứng liền trước danh từ tổng hợp. Ví dụ: không nói, bốn xe cộ; mười quần áo, mà phải nói: mười bộ quần áo, 5 đàn trâu bò.
- Từ chỉ số phỏng định, như: vài, dăm, mươi,…
- Từ hàm ý phân phối, như: mỗI, mọi, từng,… Từ hàm ý phân phối khó xuất hiện ở vị trí này, nếu đã có chỉ xuất cái ở vị trí – 1. Ví dụ: không nói: mỗi cái con mèo.
- Quán từ, như: những, các, cột.
- Từ: mấy.
Các từ phỏng định, từ những, từ mấy có thể đứng liền trước danh từ tổng hợp khi có từ chỉ loại xen giữa. Ví dụ: dăm cái quần áo.
c. Từ chỉ xuất (vị trí – 1), cụ thể là từ cái, có tác dụng chỉ xuất sự vật nêu ở thành tố chính, tức là tách sự vật ra để nhấn mạnh. Từ cái chỉ xuất có thể xuất hiện trước danh từ chất thể, như: cái thép này, cái đất này, cái vảI này,…
d. Thành tố chính (vị trí 0), là trung tâm của danh ngữ, nó có thể là:
- Danh từ, như: mèo, sách, sinh viên.
- Dạng ghép = Danh từ chỉ loại + 1 danh từ (chính), như: con mèo, cuốn sách.
- Dạng ghép = Danh từ chỉ loại (chính) + Tổ hợp từ tự do miêu tả (phụ), như: hai anh đang ngồi đọc sách đàng kia; những cuốn nói hôm nọ.
-Từ đại diện trong 1 số cách nói do thói quen, như: ba sôi, hai lạnh.
2.3.2Thành tố phụ sau của danh ngữ:
a.Vị trí + 1: (cột e) là những danh từ phụ (cụm từ cố định ý nghĩa của vật biểu thị bằng danh từ ở vị trí trung tâm. Ví dụ: phòng tạp chí, sách báo trong và ngoài nước, hệ thống thiết bị, … Định ngữ ở vị trí + 1 này thường tồn tại khi danh từ trung tâm biểu thị những sự vật có sức chứa đựng, những hệ thống hay quy mô lớn (cần hạn định lại), hay những đơn vị đo lường.
Ví dụ: trại cam, ao ước, môn vật lý,…
b. Vị trí + 2: (gồm các cột từ f ® l) là những thực từ nêu đặc trưng của vật biểu thị bằng danh từ ở vị trí trung tâm. Số lượng thực từ có mặt đồng thời để nêu những đặc trưng khác nhau tại vị trí này về mặt nguyên tắc là không hạn chế, nhưng thực tế chỉ thường từ 1 đến 3 thực từ. Chúng ta có thể là 1 từ, tổ hợp từ, cụm chủ - vị, ngữ cố định…
Ví dụ: căn phòng rất đẹp, sách mới và hay, cuộc đời ba chìm bảy nổi,… Nếu có nhiều thành tố xuất hiện đồng thời thì trật tự của chúng nói chung là:
- Thành tố phụ nêu đặc trưng thường xuyên hơn sẽ đứng trước, ví dụ: áo len/ mới.
- Thành tố phụ là danh từ hay vị từ đứng trước, đến số từ, và cuối cùng là vị trí. Ví dụ: đường tránh/ số 4/ ở giữa.
- Thành tố phụ có dung lượng nhỏ thường đứng trước thành tố phụ có dung lượng lớn hay các thành tố có chứa kết từ. Ví dụ: vấn đề cấp bách/ số 1/ về sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, trật từ này có thể bị thay đổi do các yếu tố về ngữ điệu, tâm lý,…
c. Vị trí + 3: (cột m) chuyên dùng cho các tính từ chỉ thứ tự: đầu tiên, sau cùng, thứ nhất, thứ 2, 3, 4,…
Ví dụ: Sáu cái áo dài Việt Nam đầu tiên của cô ta.
d. Vị trí + 4: (cột n) chuyên dùng cho các từ chỉ định: ấy, nọ, kia, này, đấy, đó,… được dùng như là biên giới cuối cùng của danh ngữ (trừ trường hợp có thành tố chứa kết từ của thuộc vị trí 1).
Ví dụ: xét việc ấy/ của anh và việc/ của anh/ ấy. Bài thơ/ hay (danh ngữ) và bài thơ này/ hay (câu).
e. Vị trí + 5: (cột o) giới ngữ, như: của.
Ví dụ: Tất cả những hai thúng gạo đầy ắp ấy của bà.
2.3.3 Thành tố phụ sau của danh ngữ là cụm chủ - vị:

-3-2-10+1+2+3+4+5+6
abcdef® lmnop
Từ tổng lượngSố từTừ chỉ xuấtDanh từ chínhDanh từ phụđịnh ngữ chỉ tính chấtSố thứ tựChỉ định Sở

hữu
Cụm Chủ - vị mô tả
1.MộtCáiáo dài mới đẹp màu xanh là cây của cô taở trong tủ quần áo
2. Ngườigiáo sư già đang giảng bài
3. Cậucon trai trong chiếc áo sơ mi trắng đang nói chuyện với thầy giáo
Bảng 4. Thành phần phụ sau của danh ngữ là cụm chủ - vị.
2.3.4 Nhận xét về trật tự các thành tố phụ của danh ngữ trong tiếng Việt:
a. Vị trí các định tố ở vị trí trước danh từ trung tâm (-3, -2, -1) nói chung là không thể đổI chỗ cho nhau được.
b. Quan hệ giữa danh từ trung tâm và danh từ ở vị trí + 1 (cột e) là quan hệ chính phụ có điều kiện chứ không phải là quan hệ chính phụ tuyệt đốI, có khi danh từ ở vị trí + 1 này quan trọng hơn danh từ trung tâm. Ví dụ ở ngữ: thúng gạo, thì thúng là chính nhưng trong một số hoàn cảnh ngôn ngữ nhất định, ta không thể nói đong một thúng được mà ta vẫn có thể nói đang gạo được.
c. Các định tố tại vị trí + 2 (các cột từ f ® l) thường là những từ, từ tổ chỉ thuộc tính, tính chất. Các định tố này thường do tính từ biểu thị, ngoài ra còn có thể là động từ, thời vị từ, từ tổ chính phụ, từ tổ tường thuật biểu thị. Ví dụ; thúng gạo mới xay, thúng gạo ăn Tết,… Chính vì vậy, các định ngữ ở vị trí + 2 này rất phong phú và đa dạng về mặt số lượng cũng như tính chất, ta tạm phân như trong bảng 32.
d. Các định tố tại vị trí + 4 (cột n) và + 6 (cột p) có thể đổi chỗ cho nhau (và thường + 4 nằm ở vị trí cuối). Ví dụ: cuốn sách mà tôi đã thấy đó và cuốn sách đó mà tôi đã thấy.
e.Vị trí + 6 có thể có những định ngữ do các giới từ như: đối với N, về N, mà Chủ - vị, do Chủ - Vị,… Ví dụ: cuốn sách về ngôn ngữ mà thầy Tuấn đã nhắc đến trên lớp.

Định ngữ ở vị trí + 2

Abcd
Định ngữ thường là:Động từ/ chất liệuTính từ chỉ hình dáng, tính chấtTính từ chỉ màu sắc, trạng thái hiện tại,…Từ tổ chính phụ hay từ tổ tường thuật
Định ngữ có đặc điểm:Có tác dụng phân biệt chủng loạI bằng cách biểu thị những đặc trưng chung nhất, lâu bền nhấtBiểu thị đặc trưng cụ thể hơn, chi tiết hoá đặc điểm sự vật, biểu thị bộ phận tạo thành hay hình dángBiểu thị những thuộc tính nhất thời của sự vật, có tác dụng chủ yếu là miêu tả sự vật.Có tác dụng miêu tả thêm về sự vật.
1.CáChiênbộtnóng, thơm, ngonmua hồi sáng
2.Máyindạng nằmmới tinh,tốc độ caovừa nhập về
3.Nhàgạchmột tầngcao ngấtmới xây
Tương đương cộtf, gh, ij, k, lsau + 2 (gồm: + 3, + 4, + 5 hay + 6)
Bảng 5. Trật tự định ngữ ở vị trí + 2 của tiếng Việt.
2.4 Các yếu tố khác liên quan đến trật tự định ngữ trong tiếng Việt
Tổ chức của phần cuối danh từ trong tiếng Việt phức tạp vì số lượng các định số lớn cũng như tính đa dạng của các định tố. Ngoài ra quy tắc kết hợp các định tố này tuỳ thuộc vào cách đọc, về khả năng kết hợp ngữ nghĩa, về khối lượng (chiều dài của định tố)…
2.4.1 Yếu tố về nhịp đọc:
Quy tắc kết hợp các định tố trong ngữ lưu lúc nói phụ thuộc phần lớn vào nhịp điệu đọc có ngắt quãng hay không.
Ví dụ:
- Một cô con gái 16 tuổi, mắt bồ câu, rất thông minh, đang học lớp 9.
Cũng có thể nói: Một cô con gái mắt bồ câu rất thông minh, đang học lớp 9, 16 tuổi.
Hoặc: Một cô con gái rất thông minh đang học lớp 9, 16 tuổi, mắt bồ câu.
Còn nếu đọc liền một hơi thì số lượng định tố phải giới hạn và trật tự phải bị gò bó trong khuôn mẫu đã trình bày ở trên (bảng 3, 4 và 5).
2.4.2 Yếu tố về ngữ nghĩa:
Quy tắc kết hợp các định tố trong danh ngữ còn phụ thuộc vào ngữ nghĩa (logic) của từng định ngữ và của danh từ chính, xem chúng có khả năng bổ nghĩa cho nhau hay không.
Ví dụ:
- Một bó hoa tươi thì định tố “tươi” chắc chắn bổ nghĩa cho “hoa”, nhưng nếu ta nói: Một bó hoa to thì định tố “to” có thể bổ nghĩa cho “bó” mà cũng có thể bổ nghĩa cho “hoa” tuỳ theo ngữ cảnh.
Tương tự: “áo lụa đỏ” và “áo lụa rộng”, “đỏ” bổ nghĩa cho “lụa” và “áo” còn “rộng” chỉ bổ nghĩa cho “áo”.
2.4.3 Yếu tố về khốI lượng (chiều dài) của định tố:
Quy tắc kết hợp các định tố trong danh ngữ còn phụ thuộc vào số lượng (chiều dài) của định tố, thường là đối với những định tố có cùng vị trí, thì định tố nào có chiều dài ngắn nhất thì đặt trước nhất (ngoại trừ các chỉ định từ: này, ấy, nọ, … tuy có chiều dài ngắn nhưng lại đặt sau).
Ví dụ: “Cái nhà ăn hai tầng cao ngất bằng gạch, làm năm 1990, của công nhân viên mà mọi người đều biết đến ấy.”
2.4.4 Các yếu tố khác:
Ngoài ra, quy tắc kết hợp các định tố trong danh ngữ còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như:
- Yếu tố phân đoạn thực tại: phụ thuộc vào tâm lý người nói/ viết, phụ thuộc vào tư duy bên trong, cách tạo ra “lời nói bên trong” ở trong óc của con người trước khi phát ngôn. Thường thì cái giá nghĩ đến trước thì sắp trước, mà việc nghĩ đến cái gì trước thì lại phụ thuộc vào tư duy, văn hoá của mỗi người, mỗi dân tộc, tình huống thực tế,…
- Yếu tố âm điệu: sắp xếp như thế nào cho nghe thuận tai, quen tai, nghe âm điệu nhịp nhàng, có hiệp vần,…
3. NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN
Qua sự phân tích các trật tự của các định tố trong định ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt, ta rút ra một số nhận xét và kết luận như sau:
3.1 Nhận xét:
a. Cả hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt đều cùng loại hình S – V – O, cùng giống nhau về trật tự từ ở phần chỉ định từ (determiner), mạo từ (article) và giới ngữ (prepositional phrase) sau danh từ. Như: tất cả N, N của N về …, N mà,…
b. Điểm khác biệt lớn nhất là trong tiếng Anh thì các tính từ đứng trước danh từ, còn trong tiếng Việt thì ngược lại. Điều này sẽ được lý giải trong phần kết luận dưới đây.
c. Quan điểm trong ngôn ngữ tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt là tính từ nào có tác dụng bổ nghĩa mạnh nhất, trực tiếp nhất, dễ thấy nhất thì có vị trí gần với danh từ nhất (cùng về khoảng cách với danh từ chính nhưng ngược chiều nhau, tiếng Anh thì gần từ phía bên trái, còn tiếng Việt thì gần từ phía bên phải). Ví dụ: A kind, tall and healthy student ® Một sinh viên khoẻ mạnh, cao và tử tế.
d. Tuy nhiên, ngoài các vị trí có trật tự cố định trong mọi trường hợp, thì cả hai ngôn ngữ vẫn có các vị trí mà có thể bị thay đổi trong một số trường hợp nhất định do các nhân tố về trật tự từ, như: yếu tố về tâm lý, về ngữ nghĩa muốn nhấn mạnh (quan trọng nói trước, phụ nói sau), yếu tố hài hoà về mặt ngữ âm, yếu tố về khối lượng định ngữ, yếu tố về phân đoạn thực tại…
3.2 Kết luận:
1. Điểm khác biệt lớn nhất về trật tự các định tố trong một danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt là: trong tiếng Anh thì các tính từ đứng trước danh từ, còn trong tiếng Việt thì ngược lại. Điều này được lý giải bởi tính linh động (dương) của ngữ pháp tiếng Việt (do ảnh hưởng văn hoá phương Đông – mang tính âm); nghĩa là trong ngữ lưu (cụ thể trong trường hợp này là danh ngữ), tiếng Việt cho phép người sử dụng (người nói/ viết) một nguyên tắc chung là suy nghĩ đến cái gì trước thì nói/ viết ra trước; cái gì quan trọng, cần thiết thì nói/ viết trước. Đây cũng là một trật tự tự nhiên theo tư duy của con người.
Ví dụ: khi ta nhìn thấy một “ngôi nhà, bằng gạch, cao, có hai tầng ấy” thì trong đầu óc ta nghĩ ngay đến vật thể đầu tiên là ngôi nhà (đây cũng là danh từ chính của danh ngữ), và 2 tiếng “ngôi nhà” được xếp đầu tiên, sau đó ta mới thấy các tính chất và đặc điểm của ngôi nhà đó, tuỳ theo góc nhìn của mỗi người, tuỳ theo yếu tố tâm lý của ta lúc đó (đang quan tâm tới tính chất gì), tuỳ theo cường độ tác động của các tính chất hay đặc điểm của ngôi nhà tác động vào các giác quan của ta mạnh hay yếu, mà ta có thể sắp xếp các từ mô tả tính chất hay đặc điểm đó trước hay sau. Vì vậy, ta có thể có các biến thể (đều đúng ngữ pháp tiếng Việt) của danh ngữ đó là: “một ngôi nhà gạch cao hai tầng” hay “một ngôi nhà cao hai tầng bằng gạch, cao” … nhưng tất nhiên xác xuất xuất hiện của mỗi biến thể trên tất nhiên là không bằng nhau do bị các nhân tố khác chi phối (như nhịp điệu, vần điệu, khối lượng vật chất của các thành tố, ý muốn tránh nhập nhằng ngữ nghĩa, tâm lý, ngữ cảnh,…). Vậy ta thấy trật tự các định tố trong danh ngữ tiếng Việt là một trật tự tự nhiên, trật tự thuận.
Trong tiếng Anh thì trật tự định tố trong danh ngữ không được tự do, không được linh động (nghĩa là ngữ pháp mang tính âm, do bị ảnh hưởng của nền văn hoá phương Tây mang tính dương). Trật tự các định tố trong tiếng Anh bị chi phối bởi khuôn mẫu tương đối chặt chẽ (như ta đã thấy trong bảng 1), chính vì vậy mà nhiều cái ta suy nghĩ ra sau thì lại nói ra trước và ngược lại.
Ví dụ: trong danh ngữ: “một ngôi nhà gạch cao hai tầng” thì ta luôn chỉ có 1 dạng “a high two – floor brick house” (một cao hai tầng gạch ngôi nhà).
2. Danh ngữ là một hệ thống với các yếu tố là: danh từ (chính, phụ, chỉ loại,…), các tính từ, các từ chỉ định,… và các quan hệ là: quan hệ về mặt ngữ nghĩa, quan hệ về mặt ngữ pháp, quan hệ về mặt ngữ âm (bao gồm cả thanh điệu, trường độ, nhịp điệu). Mỗi yếu tố mang trong mình các thuộc tính liên quan đến ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ âm. Các yếu tố này đều có quan hệ đa phương với các yếu tố khác trong hệ thống, đặc biệt là mối quan hệ với danh từ trung tâm. Chính các quan hệ nhiều mặt của các yếu tố này khiến cho vị trí của các định tố trong danh ngữ bị chi phối, chính vì vậy mà các vị trí đã nêu ra ở trên đều có sự phụ thuộc lẫn nhau, nghĩa là có những vị trí bắt buộc và có những vị trí tự do tuỳ thuộc vào thuộc tính và quan hệ của các yếu tố. Ví dụ: nếu là danh từ không đếm được (như: nước, gạo,..) thì không thể có vị trí số từ phía trước (không thể nói: 3 nước đó hay 2 gạo này). Hay nếu danh từ chính chỉ về động vật, thì danh từ chỉ loại của nó phải là “con”, như “con chó, con mèo,..”. Ngoài ra, quan hệ bổ nghĩa của yếu tố, ví dụ ta nói: “áo lụa rộng”, thì tính từ “rộng” ở đây cũng có thể bổ nghĩa cho danh từ “áo” chứ không thể bổ nghĩa cho “lụa” được vì “lụa” ở đây chỉ về chất liệu nên không có tính chất về kích thước không gian, còn” áo” là vật thể cụ thể thì có tính chất đó, nhưng nếu ta nói “áo lụa đỏ”, thì ta không biết “đỏ” bổ nghĩa cho “áo” hay cho “lụa”? Vì vậy, chính vì các mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống khiến tính linh động bị hạn chế lại.
3. Cách chia về vị trí các loại định ngữ trong tiếng Việt mang tính khái quát (tư duy người phương Đông mang tính tổng hợp cao) cao hơn cách chia trong tiếng Anh. Vị trí các cột trong tiếng Việt linh động hơn so với tiếng Anh.
COMPARISON OF THE WORD ORDER OF ATTRIBUTIONS IN ENGLISH AND VIETNAMESE

DINH LIEN

In this era of globalization and information, English is getting more and more popular. This is why the comparison and contrast between English and Vietnamese in every aspect is practicable and meaningful. Deprived from that spirit, this article with the comparative and contrast approach in comparative linguistics aims at the comparison between word orders of attribution in English and Vietnamese. Examples of word orders in this article are the normal and moderate ones instead of the special or marked ones (for rhetorical or emphasizing ones, ect).
CHÚ THÍCH
1.Theo [Hà Văn Bửu, 1998] trang 129 cũng như một số tác giả khác và ý kiến cá nhân của người viết bài này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


  1. Bùi Khánh Thế (1999). Bài giảng về phương pháp so sánh trong Ngôn ngữ học. Lớp Cao học Ngôn ngữ học so sánh khoá 1998, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh.
  2. Diệp Quang Ban (1989). Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông (tập 2). NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
  3. Đái Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân - Nguyễn Quang – Vương Toàn (1984). Ngôn ngữ học lịch sử và phương pháp so sánh trong cuốn: Khuynh hướng – Lĩnh vực – Khái niệm. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội (trang 31 – 48).
  4. Hà Văn Bửu (1998). Văn phạm tiếng Anh miêu tả. NXB Tp. Hồ Chí Minh.
  5. Hồ Lê (1971). Tác dụng phương thức “vị trí” trong phạm vi cụm danh từ. Tạp chí Ngôn ngữ số 3, trang 1 – 12.
  6. Hồ Lê (1983). Một số vấn đề xung quanh vị trí bắt buộc và vị trí tuỳ ý trong danh ngữ tiếng Việt hiện đại. Tạp chí Ngôn ngữ số 1, trang 35 – 46.
  7. Lý Toàn Thắng (1981). Về một hướng nghiên cứu trật tự từ trong câu. Tạp chí Ngôn ngữ số 3 + 4, trang 25 – 32.
  8. [*:abaa]Lý Toàn Thắng (1999). Bài giảng về Lý thuyết trật tự từ. Lớp Cao học ngôn ngữ so sánh – kho

ng thi thanh huyen

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 09/11/2009

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết